Đã mở toang thị trường bán lẻ

Đã mở toang thị trường bán lẻ

Thực hiện cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), đã từ lâu chứ không phải đến bây giờ, Việt Nam đã mở cửa cho hàng hóa nhập khẩu và cả nhà đầu tư nước ngoài trong thị trường bán lẻ. Vì vậy, câu chuyện lúc này, theo các chuyên gia trong ngành, không phải là hạn chế nhà đầu tư nước ngoài mà hỗ trợ doanh nghiệp trong nước bằng cải cách thể chế, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Nhìn lại lộ trình và sự thiếu chuẩn bị của ta

Khi gia nhập WTO, năm 2007, Việt Nam cam kết sẽ mở cửa tất cả các dịch vụ phân phối theo phân loại của tổ chức này và dịch vụ bán lẻ là một trong bốn dịch vụ. Ngay sau thời điểm 11-1-2007, nhà phân phối nước ngoài được thực hiện hoạt động phân phối dưới hình thức bắt buộc là liên doanh với đối tác Việt Nam (phần vốn góp không quá 49% cổ phần). Từ ngày 1-1-2008, họ được phép hoạt động dưới hình thức liên doanh nhưng không bị hạn chế về tỷ lệ vốn góp (có thể lên tới 99,99%). Từ ngày 1-1-2009, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ. Tính ra, chỉ trong vòng hai năm, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ dưới góc độ sự hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối, ngắn hơn gần một nửa so với lộ trình mở cửa các lĩnh vực dịch vụ khác như chuyển phát, chứng khoán, vận tải…

Nhưng Việt Nam cũng đưa ra những rào cản về phạm vi hoạt động và diện mặt hàng phân phối với nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua việc lập cơ sở bán lẻ (cửa hàng, siêu thị) và chỉ được chủ động mở một cơ sở. Từ cơ sở thứ hai trở đi, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện về sự hiện diện của các nhà cung cấp dịch vụ trong khu vực, sự ổn định của thị trường, quy mô địa lý… mới được cơ quan chức năng cấp phép. Đây được gọi là kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT).

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không cho phép doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài phân phối chín nhóm hàng gồm lúa gạo; đường mía, đường củ cải; thuốc lá, xì gà; dầu thô, dầu đã qua chế biến; dược phẩm; thuốc nổ; kim loại quý, đá quý; sách báo, tạp chí; vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu. Họ chỉ được phân phối theo lộ trình các nhóm hàng rượu; xi măng, clanke; phân bón; lốp; giấy; sắt thép; thiết bị nghe nhìn; máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy (từ ngày 1-1-2009 bắt đầu được phân phối máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy và từ ngày 11-1-2010 mở cửa hết bảy mặt hàng còn lại).

Tuy nhiên, Việt Nam lại cho phép các trường hợp ngoại lệ là các nhà phân phối đã được thành lập tại Việt Nam trước thời điểm 11-1-2007 mà giấy phép có phân phối các mặt hàng bị cấm hoặc mở cửa theo lộ trình (thì không bị hạn chế bởi quy định). Tương tự, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở lĩnh vực phân phối đã được thiết lập liên doanh, mở doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mở hàng loạt siêu thị… trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO như Metro & Cash Carry của Đức, Big C của Pháp, Parkson của Malaysia cũng sẽ tiếp tục hoạt động như giấy phép đã cấp.

Chuyên gia nhượng quyền và bán lẻ Nguyễn Phi Vân, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Đầu tư và Tư vấn Retail & Franchise Asia, cho rằng chúng ta cần thời gian để doanh nghiệp bán lẻ trong nước chuẩn bị và hội nhập bằng công cụ ENT, dù rằng biện pháp này bị các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là không phù hợp trong tình hình thiếu minh bạch của Việt Nam. Vấn đề đáng tiếc là tuy Nhà nước có dành thời gian chuẩn bị nhưng lại hoàn toàn thiếu một chiến lược và chương trình xuyên suốt để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước xây dựng nền tảng vững mạnh nhằm tồn tại và phát triển trong vị thế cạnh tranh mới của thị trường.

Cũng về ENT, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đánh giá, chuyện thực thi hàng rào kỹ thuật này bao nhiêu năm qua có vấn đề. Các nhà đầu tư nước ngoài kêu rằng không minh bạch nhưng thật ra công cụ này cũng không bảo hộ được nhà bán lẻ trong nước. Các nhà phân phối lớn trong nước cũng không có được lợi thế nào hơn. “Tôi cứ nhớ chuyện của Saigon Co.op (Liên hiệp Hợp tác xã thương mại TPHCM) mãi không ra được Hà Nội. Thời chị Nghĩa (bà Nguyễn Thị Nghĩa – Chủ tịch Hội đồng quản trị), đơn vị này đã làm việc biết bao nhiêu lần nhưng rồi có được đâu. Cái siêu thị đầu tiên của Saigon Co.op mở được là ở Hà Đông, hồi còn chưa sáp nhập về Hà Nội và tất nhiên thị trường chưa phát triển”, bà Chi Lan kể.

Bà Lan cũng cho rằng, thị trường bán lẻ Việt Nam với mức độ “mở toang” như hiện nay không chỉ vì thực hiện theo WTO mà còn vì nhiều FTA khác. Trong đó, đáng kể nhất là FTA Việt Nam – ASEAN và Việt Nam – ASEAN cộng Trung Quốc. Chương trình thu hoạch sớm (EHP) được áp dụng đã khiến mở cửa thị trường sớm với sản phẩm của các nước tham gia hiệp định. Hàng hóa của Trung Quốc, Thái Lan… với lợi thế sát bên Việt Nam đã tràn vào nhanh, mạnh hơn các thành viên của WTO khác.

Quá muộn để nói chuyện giành lại bằng biện pháp hành chính

Theo chuyên gia Nguyễn Phi Vân, ngay ở thời điểm ký cam kết WTO, doanh nghiệp ngoại đã có kế hoạch sẵn sàng để tiếp cận thị trường Việt Nam qua các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh mô hình, chuẩn bị nguồn lực… Khi các cam kết được đưa vào thực hiện, người ta chỉ có một việc phải làm, đó là xuất phát trong cuộc đua với các doanh nghiệp ngoại khác. Trong khi đó, dường như Nhà nước lại không có gì. “Là một doanh nhân, tôi hoàn toàn hiểu rằng doanh nghiệp phải biết tự thân vận động. Tuy nhiên một ngành, một nền kinh tế không thể được xây dựng vững mạnh chỉ từ sự cố gắng của những cá nhân. Cần phải có sự lãnh đạo của nhà nước, tinh thần cùng hợp tác và phát triển – hiệp hội và doanh nghiệp cùng hướng về một mục tiêu chung. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thị trường bán lẻ như hiện nay”, bà Vân thẳng thắn.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng đồng tình, Việt Nam đã quá hăng hái trong việc tham gia các hiệp định, cam kết quốc tế nhưng lại thiếu sự chuẩn bị trong nước. Tự do hóa cho bên ngoài nhưng ngược lại với trong nước, và cũng ngược với các nước. Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài có từ năm 1987 ngay sau đổi mới nhưng đến năm 1991 mới có Luật Doanh nghiệp tư nhân rồi đến năm 1999 mới có Luật Doanh nghiệp (chung). Hàng loạt những rào cản từ thể chế đến thực thi khiến doanh nghiệp khốn khổ. “Đấy là cái chết của doanh nghiệp mình!”, bà Lan nói.

Với tình hình hiện nay, các chuyên gia đều cho rằng, đã quá muộn để nói chuyện giành lại thị trường bán lẻ bằng các quy định hành chính, hạn chế nhà đầu tư nước ngoài bằng cách này hay cách kia. Theo bà Chi Lan, đó là thả gà ra đuổi. Còn dưới góc nhìn của chuyên gia Nguyễn Phi Vân thì không đúng quy luật, vì “kinh doanh quốc tế là bài toán giữ uy tín, tạo điều kiện và công bằng trong việc điều chỉnh thị trường”. Bà Vân cho rằng, hệ quả của việc bị gây khó dễ ở điểm nào đó là nhà đầu tư sẽ chuyển hướng sang những thị trường tiềm năng khác.

Tổng giám đốc một chuỗi bán lẻ trong nước cũng từng nói với TBKTSG: nhà đầu tư nào, trong nước hay ngoài nước thì cũng phải nhìn sâu vào việc đứng đằng sau họ là ai. Có những nhà bán lẻ trong nước nhưng thực tế, nắm quyền chi phối lại là các quỹ đầu tư nước ngoài. Đó là chưa kể có những doanh nghiệp trong nước đầu tư chuỗi bán lẻ với quy mô lớn rồi cuối cùng bán lại cho nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy, chính sách cần trúng và đúng.

Câu chuyện còn lại lúc này, vì thế, không phải là siết hay nới, đóng hay mở, hạn chế hay tự do… mà phải trở về gốc rễ của vấn đề. Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, đó là Nhà nước phải tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa tất cả các thành phần kinh tế, tránh tình trạng ưu đãi dành hết cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước. Việc bảo hộ, nếu có, sẽ không vi phạm cam kết quốc tế vì vẫn có những trường hợp cần thiết. Tuy nhiên cần sáng suốt để lựa chọn biện pháp phù hợp. Quan trọng hơn là phải xuyên suốt từ trên xuống dưới chứ không phải các bộ, ngành thì quyết tâm nhưng đến cơ quan thực thi thì ngược lại.

Những lỗ hổng cam kết

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhìn lại các cam kết và việc thực thi cam kết với WTO liên quan đến thị trường bán lẻ, ta có nhiều lỗ hổng. Và đây chính là những nguyên nhân khiến doanh nghiệp trong nước thua ngay trên sân nhà.

Thứ nhất, Việt Nam đề ra công cụ ENT để chặn việc mở siêu thị tràn lan của các nhà phân phối nước ngoài nhưng lại bỏ ngỏ kênh cửa hàng nhỏ lẻ với quy mô 50-100 mét vuông (hình thức cửa hàng tiện lợi). Do vậy, các nhà đầu tư ở phân khúc này đã mở 200-300 cửa hàng trên cả nước, cạnh tranh trực tiếp với cửa hàng tạp hóa, người kinh doanh nhỏ. Với số lượng cửa hàng lớn, độ phủ rộng và dễ dàng đi sâu vào ngõ ngách, khu dân cư, mô hình này có tác động lớn.

Thứ hai, các cam kết với WTO không có tác động đến những doanh nghiệp đã được cấp phép trước đó. Chính vì vậy, các nhà đầu tư này đã tranh thủ tối đa để mở chuỗi, nâng số lượng siêu thị lên con số hàng chục (vì không chịu tác động của ENT), rồi bán lại cho nhà đầu tư khác với giá cao.

Thứ ba, các mặt hàng cấm hoặc mở theo lộ trình chủ yếu là mối quan tâm của doanh nghiệp nhà nước hay đầu tư nước ngoài. Những mặt hàng mang tính phổ cập phục vụ tiêu dùng nhanh hàng ngày, như nông sản, lại không bị hạn chế. Việt Nam đã hy sinh lợi ích của số đông (hoàn toàn ngược với cam kết của các nước trên thế giới khi luôn bảo hộ các mặt hàng nông sản, các sản phẩm do nhà sản xuất trong nước làm ra bằng điều kiện về tỷ lệ hàng hóa nội địa).

Minh Tâm

Doanh nghiệp sản xuất trong nước cần liên kết lại

Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM, cho rằng lâu nay doanh nghiệp trong nước quá phụ thuộc hoặc “nuông chiều” những yêu sách của các nhà bán lẻ hiện đại mà không có động thái kháng cự, liên kết để đấu tranh nhằm giành lại quyền lợi chính đáng.

Nguyên nhân là các nhà sản xuất và cung cấp hàng hóa trong nước ở thế yếu trong mối quan hệ với các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại, từ việc không được điều chỉnh điều khoản trong hợp đồng đến việc buộc phải trả các loại phí trưng bày, phí mở mã hàng, phí thuê quầy kệ, quảng cáo…

Năm ngoái, một nhóm doanh nghiệp thủy sản thuộc Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã đồng loạt phản ứng, dọa sẽ ngưng cung cấp hàng cho một hệ thống siêu thị nước ngoài nếu nhà bán lẻ đó tiếp tục tăng chiết khấu. Phản ứng này đã phần nào mang lại hiệu quả, buộc nhà bán lẻ phải ngồi lại đàm phán với các nhà cung cấp và cam kết không tăng chiết khấu.

Theo ông Hưng, gắn kết các doanh nghiệp cùng ngành hàng để tạo thế đối trọng với nhà bán lẻ là một trong những cách đối phó tốt. Từng doanh nghiệp nhỏ thì khó có thể để đàm phán với những nhà bán lẻ khổng lồ, nhưng nếu các doanh nghiệp lớn, hiệp hội liên kết các thành viên cùng nhau hành động thì câu chuyện sẽ khác.

Dù kênh phân phối hiện đại đang bị các nhà phân phối ngoại lấn lướt, nhưng theo ông Hưng, các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vẫn còn “sống được” là nhờ kênh phân phối truyền thống, chiếm hơn 75% thị phần bán lẻ. Do đó, các doanh nghiệp cũng cần hợp lực để khai thác các kênh phân phối truyền thống nhằm giảm sự phụ thuộc vào kênh phân phối hiện đại.

Theo đó, những doanh nghiệp không cùng ngành hàng hoặc không cạnh tranh trực tiếp sẽ cùng nhau xây dựng hệ thống phân phối tới tận tuyến huyện, xã. Với cách này, chi phí xây dựng mạng lưới bán hàng và vận chuyển hàng hóa sẽ giảm đáng kể so với từng doanh nghiệp tự làm riêng.

Quốc Hùng

Theo thesaigontimes.

Related Post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *